Hiện vật tiêu biểu

Xác tàu chiến Pháp và ký ức của người Cựu chiến binh Sông Lô

Vào một ngày rét đậm cuối năm 2014, Bảo tàng Quân khu 2 vinh dự tiếp đón Cựu chiến binh Phan Văn Đức, người từng tham gia trận phục kích quân Pháp trên Sông Lô năm 1947 và may mắn được ông kể lại trận đánh lịch sử gắn với hiện vật xác tàu chiến Pháp đang trưng bày tại Bảo tàng.

Tấm ảnh “Bác Hồ ở mặt trận Đông Khê 1950” và cuộc đời của Nghệ sĩ nhiếp ảnh Vũ Năng An

Với mỗi người nghệ sĩ nói chung và nghệ sĩ nhiếp ảnh nói riêng, được sống, chứng kiến và ghi lại những thời khắc trọng đại của dân tộc là một niềm vinh dự và tự hào. Và Nghệ sĩ nhân dân Vũ Năng An là một trong những người nghệ sĩ may mắn ấy, ông vinh dự được nhận giải thưởng Hồ Chí Minh dành cho các tác phẩm Văn học Nghệ thuật năm 1996 với tấm ảnh “Bác Hồ ở mặt trận Đông Khê 1950”.

Bức thư gửi “Cha Hồ”

Bức thư của Hoàng thân Xuphanuvông gửi Bác Hồ ngày 21/12/1950 hiện đang được lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam với số đăng ký 8213/Gi.2327 là minh chứng cho tình cảm đặc biệt của hai người anh hùng dân tộc và nhân dân hai nước Việt Nam – Lào.

Bộ kèn đồng trong ngày “Tết Độc lập”

“Đoàn quân Việt Nam đi/ Chung lòng cứu quốc/ Bước chân dồn vang trên đường gập ghềnh xa/ Cờ in máu chiến thắng mang hồn nước/ Súng ngoài xa chen khúc quân hành ca…”

Khắc gỗ hình Bác Hồ giữa chiến trường Thượng Lào và tinh thần “Lào - Việt Xa-ma-khi!”

Sau chiến thắng trong chiến dịch Thượng Lào năm 1953, mặc dù điều kiện kháng chiến thiếu thốn, phương tiện in ấn không có, lại đang đóng quân trên đất bạn nhưng Trung đoàn 9, Đại đoàn 304 vẫn có hàng nghìn bức hình Bác Hồ tặng nhân dân Lào khi chia tay. Bí ẩn này được lý giải từ một hiện vật đang trưng bày ở Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam mang số đăng ký 953 G-34.

“Chân dung” Anh hùng, liệt sĩ Nguyễn Như Trang - người con ưu tú của dân tộc

Tháng 5/2017 bức tượng đồng bán thân Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, liệt sĩ Nguyễn Như Trang do Nhà điêu khắc Hoàng Sỹ Long sáng tác được hoàn thiện vào đúng dịp kỷ niệm 70 năm ngày Thương binh, liệt sĩ (27/7/1947-27/7/2017). Tác phẩm ngợi ca phẩm chất cao đẹp của người chiến sĩ giải phóng quân Nguyễn Như Trang trong những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược năm 1946.

Video
Liên kết ngoài

Thiếu tướng

Thiếu tướng Hoàng Thế Thiện

Gửi lúc 14/09/2015 14:29:59 CH

Thiếu tướng Hoàng Thế Thiện (20/10/1922 – 5/9/1995), tên thật là Lưu Văn Thi, sinh tại ngõ Mai Viên, đường Agent Blambay (nay là đường Trần Bình Trọng), phường Lương Khánh Thiện, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, trong một gia đình nghèo thành thị yêu nước.



Ông là con trai thứ hai của vợ chồng cụ Lưu Văn Ngữ (1892-1946) và Trịnh Thị Tạc (1897-1944). Cha ông từng tham gia phong trào Đông Du do Phan Bội Châu khởi xứng và tham gia phong trào mặt trận Bình dân, là sáng lập viên đồng thời là Ủy viên Ban trị sự Hội Ái hữu công nhân tư gia thành phố Hải Phòng. Cụ từng bị thực dân Pháp bắt giam. Gia đình cụ cũng là cơ sở của nhà Cách mạng Nguyễn Lương Bằng. 

Sớm ảnh hưởng tư tưởng yêu nước từ cha nên ngay từ khi còn là học sinh Trường Bonnal, Hoàng Thế Thiện đã tích cực tham gia vào các hoạt động yêu nước của phong trào Hướng đạo sinh thành phố Hải Phòng. Đầu năm 1940, ông tham gia Tiểu tổ bí mật do nhà cách mạng Vũ Quý phụ trách, tự động xây dựng lại cơ sở cách mạng bí mật tại thành phố Hải Phòng đã bị địch khủng bố tan rã trước đó. Ông tham gia hoạt động trong phong trào Truyền bá Quốc ngữ từ năm 1940 và được cử làm Ủy viên Ban Trị sự Hội Truyền bá quốc ngữ thành phố Hải Phòng.

Tháng 1/1942, ông tham gia Đoàn Thanh niên Cứu quốc và được giao nhiệm vụ xây dựng Đoàn Thanh niên Cứu quốc của Việt Minh ở thành phố Hải Phòng, đồng thời phụ trách một cơ sở bí mật trong thanh niên, học sinh thành phố. Sau một đợt đấu tranh treo cờ, phân phát truyền đơn toàn thành phố Hải Phòng có kết quả vào cuối năm 1942, ông được giao nhiệm vụ chuẩn bị thành lập Đoàn Thanh niên Cứu quốc toàn thành phố và thống nhất đầu mối chỉ đạo. Tháng 3/1943, ông bị chính quyền thực dân Pháp bắt tại Ngân hàng Đông Dương và đưa ra xử tại tòa án binh Hà Nội. Ông bị kết án 5 năm tù khổ sai, bị giam tại nhà tù Hỏa Lò (Hà Nội), rồi bị đày lên nhà tù Sơn La. Ông được kết nạp vào nhóm Trung Kiên ở Hỏa Lò và Hội Lao tù Cứu quốc ở Sơn La, được nhà cách mạng Trần Đăng Ninh trực tiếp huấn luyện về công tác bí mật và vận động quần chúng.  

Tháng 3/1945,ông vượt ngục tập thể trong nhóm của nhà cách mạng Trần Quốc Hoàn rồi về Thái Nguyên tiếp tục hoạt động cách mạng. Tháng 4/1945, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương và được cử làm Đội trưởng Đội Vũ trang Tuyên truyền Cứu quốc quân huyện Vũ Nhai. Tháng 8/1945, ông tham gia giành chính quyền tại thị xã Thái Nguyên. Tháng 10/1945, ông làm Thường vụ Tỉnh ủy - Chủ nhiệm Việt Minh tỉnh Thái Nguyên. Tháng 10/1946, ông làm Thường vụ Tỉnh ủy - Chủ nhiệm Việt Minh tỉnh Vĩnh Yên. Tháng 4/1947, ông được điều vào Quân đội làm Phái viên Chính trị Khu 10, rồi Trưởng phòng Chính trị Liên Khu 10 - Quân khu ủy viên. Tháng 7/1948, ông được cử làm Chính ủy - Bí thư Đảng ủy Trung đoàn Sông Lô (E209). Tháng 9/1949, ông được Bộ Quốc phòng cử làm Trưởng đoàn cán bộ quân sự vào tăng cường cho chiến trường Nam Bộ trong phong trào Nam tiến. 

Tháng 7/1950, ông làm Phái viên Kiểm tra Bộ Tư lệnh Nam Bộ. Tháng 11/1950, ông làm Chính ủy - Bí thư Đảng ủy Trung đoàn Tây Đô (Khu 9), Chỉ huy phó các chiến dịch Long Châu Hà II và chiến dịch Sóc Trăng II. Cuối năm 1951, ông làm Chính ủy - Bí thư Đảng ủy Trung đoàn Cửu Long (Phân Liên khu miền Tây Nam Bộ). Tháng 10/1952, ông làm Trưởng phòng Chính trị rồi Chủ nhiệm Chính trị Phân Liên khu miền Tây Nam Bộ - Quân khu ủy viên, Ủy viên Ban Tuyên huấn và Ủy viên Ban Tổ chức Trung ương Cục miền Nam. Năm 1955, ông tập kết ra Bắc phụ trách Ban Đại diện miền Tây Nam Bộ. Tháng 12/1955, ông làm Chủ nhiệm Chính trị Liên khu 3 - Quân khu ủy viên. Tháng 7/ 1956, ông làm Chính ủy Ban Nghiên cứu Sân bay. Tháng 12/1958, ông được phong quân hàm Thượng tá. Tháng 1/1959, ông làm Chính ủy - Bí thư Đảng ủy đầu tiên của Cục Không quân. 

Tháng 10/1964, ông trở lại chiến trường Nam Bộ trên con tàu "không số" (Đoàn 125) với bí danh là Hoàng Dân tức Tư Dân. Tháng 12/1964, ông làm Phó Chính ủy Quân khu 8 (Trung Nam Bộ). Tháng 7/1965, ông về miền Đông tham gia thành lập Sư đoàn 9 - Sư đoàn chủ lực đầu tiên của Quân Giải phóng miền Nam, làm Phó Chính ủy - Phó Bí thư Đảng ủy kiêm Chủ nhiệm Chính trị đầu tiên của Sư đoàn 9. Tháng 2/1966, ông được phong quân hàm Đại tá. Tháng 8/1966, ông về Mặt trận Tây Nguyên (B3) làm Chính ủy - Bí thư Đảng ủy Sư đoàn 1, Đảng ủy viên Mặt trận B3; ông đã cùng Tư lệnh sư đoàn Nguyễn Hữu An chỉ huy, chỉ đạo Sư đoàn 1 đánh nhiều trận hay, đặc biệt là đánh thiệt hại nặng Lữ dù 173 của Mỹ trong chiến dịch Đắc Tô 1 trên đồi 875 ở phía tây bắc Kon Tum vào mùa đông năm 1967. Tháng 1/1969, ông làm Chính ủy - Bí thư Đảng ủy Sư đoàn 304. 

Tháng 7/1970, ông được điều vào tuyến lửa Trường Sơn, làm Phó Chính ủy - Thường vụ Đảng ủy Mặt trận 968 Nam Lào rồi tham gia chiến dịch Đường 9 - Nam Lào (tháng 1/1971). Tháng 6/1971, ông làm Phó Chính ủy - Thường vụ Đảng ủy Bộ Tư lệnh Trường Sơn (Đoàn 559) kiêm Chính ủy - Bí thư Đảng ủy Bộ Tư lệnh khu vực 470 (tương đương Sư đoàn). Tháng 5/1973, ông làm Chính ủy - Phó Bí thư rồi Bí thư Đảng ủy Bộ Tư lệnh Trường Sơn. Ngày 16/4/1974, ông được phong quân hàm Thiếu tướng theo Lệnh số 21-LCT của Chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Tôn Đức Thắng. Tháng 2/1975, ông được điều vào chiến trường B2 (Nam Bộ) làm Chính ủy - Bí thư Đảng ủy Quân đoàn 4, Phó Chính ủy - Thường vụ Đảng ủy Mặt trận phía Đông thuộc Bộ Tư lệnh B2. Ông trực tiếp chỉ huy hướng tiến công Dầu Tiếng - Chơn Thành. Tháng 4/1975, ông tham gia chỉ huy cánh quân hướng Đông - một trong năm cánh quân tiến vào giải phóng Sài Gòn trong chiến dịch Hồ Chí Minh. Tháng 12/1976, ông được bầu làm Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa IV. Tháng 4/1977, ông được cử làm Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Chủ nhiệm Tổng cục Xây dựng Kinh tế - Bí thư Đảng ủy Tổng cục. Từ tháng 10/1978 đến tháng 6/1982, ông làm Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Trưởng ban B.68 của Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy Đoàn Chuyên gia Việt Nam toàn Campuchia, Cố vấn cho Tổng Bí thư Đảng Nhân dân cách mạng Campuchia, Phó Tổng đoàn chuyên gia Việt Nam tại Campuchia, Phó Tư lệnh Chính trị Quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia kiêm Trưởng đoàn chuyên gia quân sự Việt Nam tại Campuchia (đoàn 478). 

Tháng 7/1982, ông được điều về nước làm Thứ trưởng thứ nhất Bộ Thương binh và Xã hội (nay là Bộ Lao động – Thương binh – Xã hội). Tháng 5 năm 1983, ông được cử làm Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khóa II. Tháng 2/1987, ông làm Thứ trưởng thứ nhất Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội. Tháng 7/1987, ông được nghỉ hưu. 

Với những thành tích trong quá trình công tác, ông được tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Quân công (2 hạng Nhất, 1 hạng Nhì, 1 hạng Ba), Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương chiến công hạng Nhất, 2 Huân chương Kháng chiến hạng Nhất và nhiều huân huy chương khác. Ông còn được Hội đồng Viện hàn lâm Hermann Gmeiner thuộc tổ chức Làng trẻ em SOS quốc tế trao tặng giải thưởng "Kim vàng Danh dự" do đã có những đóng góp đặc biệt cho tổ chức này.

Hà An
 ( 3,0 / 0 )
Bài gần đây Quay lại | Lên đầu trang
Bài cùng chuyên mục
Xem thêm...