In bài viết, Ngày 29 tháng 10 năm 2013 - 14:11

Đại tướng Đoàn Khuê

Đại tướng Đoàn Khuê (sinh ngày 29 tháng 10 năm 1923; mất ngày 16 tháng 01 năm 1999), xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo tại thôn Gia Đẳng, xã Triệu Tân, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị (nay là xã Triệu Lăng, Triệu Phong, Quảng Trị, trú tại số nhà 30 phố Lý Nam Đế, phường Cửa Đông, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội.

Năm 1939, đồng chí tham gia Đoàn thanh niên Phản đế. Tháng 8 năm 1940, đồng chí là Bí thư Thanh niên Cứu quốc huyện Triệu Phong. Cuối năm 1940, đồng chí bị địch bắt giam ở nhà lao Quảng Trị, sau đó bị đưa đi đày ở Buôn Mê Thuột. Tháng 5 năm 1945, ra tù, đồng chí về hoạt động xây dựng cơ sở cách mạng ở tỉnh Quảng Bình. Tháng 6 năm 1945, đồng chí được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương và được cử làm Chủ nhiệm Chính trị Mặt trận Việt Minh tỉnh Quảng Bình. Từ tháng 8 năm 1945, đồng chí là Uỷ viên Quân sự tỉnh Quảng Bình, tham gia thành lập Tỉnh uỷ lâm thời Tỉnh Quảng Bình. Từ tháng 8 năm 1946, đồng chí là Chính trị viên, Bí thư Đảng uỷ Trường Lục quân Quảng Ngãi, Bí thư Đảng uỷ Tiểu đoàn Hồ Hích, Quảng Ngãi. Từ tháng 4 năm 1947, đồng chí là Chính trị viên Trung đoàn 69, 73, 78, 126 và 84 Liên khu V, Bí thư Đảng uỷ Trung đoàn, Uỷ viên Thường vụ Ban cán sự Đắc Lắc. Từ tháng 5 năm 1953, đồng chí là Chính uỷ Trung đoàn 108, Bí thư Trung đoàn uỷ rồi Phó Chính uỷ Sư đoàn 305 Liên khu V. Cuối năm 1954 đến năm 1957, đồng chí là Phó Chính uỷ Sư đoàn 675, Chính uỷ, Bí thư Đảng uỷ Sư đoàn 351. Từ tháng 3 năm 1958 dến năm 1960, đồng chí là Chính uỷ, Bí thư Đảng uỷ Lữ đoàn 27, Uỷ viên Đảng uỷ Quân khu IV. Từ tháng 10 năm 1960, đồng chí là Phó Chính uỷ Quân khu IV, Quân khu uỷ viên. Từ đầu năm 1963 đến năm 1975, đồng chí hoạt động  ở chiến trường khu V, là Phó Chính uỷ Quân khu, Uỷ viên Thường vụ khu uỷ Khu V, Phó Bí thư Quân khu uỷ.

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV(tháng 12/1976), đồng chí được bầu làm Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Từ năm 1977 đến năm 1980, đồng chí là Tư lệnh kiêm Chính uỷ Quân khu V, Bí thư Đảng uỷ Quân khu.

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V (tháng 3/1982), đồng chí được bầu làm Uỷ viên Ban chấp hành Trung ương Đảng. Năm 1983 đồng chí giữ chức Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh 719, Phó Trưởng đoàn Chuyên gia giúp bạn Căm-Pu-Chia. Cuối năm 1986, đồng chí được Nhà nước bổ nhiệm làm Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Tư lệnh Bộ tư lệnh 719, Trưởng ban lãnh đạo Đoàn Chuyên gia giúp bạn Cam-Pu-Chia.

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (tháng 12/1986), đồng chí được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng và được Ban Chấp hành Trung ương bầu làm Uỷ viên Bộ Chính trị.

Năm 1987, đồng chí được Nhà nước bổ nhiệm làm Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, Uỷ viên Thường vụ Đảng uỷ Quân sự Trung ương.

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII (tháng 6/1991), đồng chí được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng và được Ban Chấp hành Trung ương bầu làm Uỷ viên Bộ Chính trị, được cử làm Phó Bí thư Đảng uỷ quân sự Trung ương.

Từ tháng 8 năm 1991, đồng chí giữ chức Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII (tháng 6/1996), đồng chí được bầu vào Ban Chấp  hành Trung ương Đảng và được Ban Chấp hành Trung ương bầu làm Uỷ viên Bộ Chính trị, được cử làm Phó Bí thư Đảng uỷ Quân sự Trung ương.

Đồng chí là đại biểu Quốc hội khoá VII (1981), khoá VIII (1987), khoá IX (1992), và khoá X (1997).

Với những thành tích của đồng chí trong quá trình công tác, đồng chí được Nhà nước phong quân hàm Thiếu tướng (năm 1974), Trung tướng (năm 1980), Thượng tướng (năm 1984), Đại tướng (năm 1990) và được tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng nhất, Huân chương Kháng chiến hạng nhất, Huân chương Chiến công hạng nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng nhất, Huân chương Chiến sỹ vẻ vang hạng nhât, nhì, ba, Huy chương Quân kỳ Quyết thắng, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng.