Hiện vật tiêu biểu

Chỉ thị “Phải phá tan cuộc tấn công mùa đông của giặc Pháp”

Ngày 15/10/1947, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị “Phải phá tan cuộc tấn công mùa đông của giặc Pháp”. Tinh thần chỉ thị là quyết chiến quyết thắng. Chỉ thị trở thành mệnh lệnh hành động và ý chí quyết tâm chiến đấu của quân và dân ta trên khắp chiến trường Việt Bắc.

Bản nhạc bài hát “Biết ơn Võ Thị Sáu”

“Mùa hoa Lê ki ma nở, ở quê ta miền đất Đỏ. Thôn xóm vẫn nhắc tên người anh hùng đã chết cho mùa hoa Lê ki ma nở. Người thiếu nữ ấy như mùa Xuân, chị đã dâng cả cuộc đời, để chiến đấu với bao niềm tin. Dù chết vẫn không lùi bước…”

Bức thư Bác Hồ gửi Trung đoàn Sông Lô anh hùng

Với những chiến công xuất sắc trong trận phục kích trên sông Lô của Trung đoàn 87, ngày 15/1/1948, Bác Hồ đã gửi thư khen ngợi, động viên Trung đoàn. Bức thư trở thành nguồn cổ vũ to lớn khích lệ cán bộ, chiến sĩ đơn vị vượt mọi khó khăn gian khổ, tiến lên lập nhiều thành tích trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp 1946-1954.

Huyền thoại Đại bác gỗ “Sàng Là”

Tham quan Bảo tàng Lực lượng vũ trang Việt Bắc (Quân khu 1), du khách thường lưu tâm tới một hiện vật đặc biệt. Đó là Đại bác gỗ “Sàng Là”, do ông Hứa Văn Khải - Đội trưởng đội Lão du kích huyện Trùng Khánh (Cao Bằng) chế tạo, sử dụng trong trận phục kích quân Pháp trên đèo Keng Phác (Trùng Khánh - Cao Bằng), góp phần phá hủy 2 xe quân sự, tiêu diệt 47 tên Pháp ngày 27/10/1947.

Lá cờ “Quyết tử quân”

Trải qua hơn 70 năm, lá cờ vẫn giữ được sắc màu tươi đỏ với dòng chữ “Quyết tử quân”. Đó là một vật chứng về những chiến công vang dội của Đội Quyết tử quân trong những ngày đầu Toàn quốc kháng chiến.

Khẩu súng badôka do quân giới Việt Nam sản xuất

Nằm trong không gian trưng bày Chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông năm 1947, khẩu súng badôka (bazooka) do quân giới Việt Nam sản xuất năm 1947 là một trong những hiện vật tiêu biểu của Bảo Lịch sử Quân sự Việt Nam, phản ánh sức sáng tạo, nỗ lực nghiên cứu của cán bộ, công nhân ngành Quân giới Việt Nam trong giai đoạn mới thành lập.

Video
Liên kết ngoài

Công trình nghiên cứu

Tư tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh về vấn đề xây dựng hậu phương trong chiến tranh

Gửi lúc 24/09/2017 15:29:28 CH

Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin đã chỉ ra vai trò quan trọng thường xuyên của hậu phương đối với thành bại của chiến tranh trong các tác phẩm về chiến tranh và quân đội. Vận dụng vào nước ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thể hiện những tư tưởng đó trong nhiều bài viết, bài nói khác nhau tạo thành một hệ thống những quan điểm lý luận sâu sắc về vai trò của hậu phương trong chiến tranh.

Tư tưởng của Người về hậu phương được hình thành từ rất sớm và ngày càng được bổ sung, hoàn thiện gắn liền với cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân ta. Tư tưởng của Người về hậu phương có thể quy tụ thành những vấn đề cơ bản sau:

1. Về vai trò và mối quan hệ giữa hậu phương với tiền tuyến

Hậu phương hiểu theo nghĩa hẹp là “nơi đối xứng với tiền tuyến, có sự phân biệt rạch ròi bằng yếu tố không gian, là lãnh thổ ngoài vùng chiến sự, phía sau chiến tuyến, có dân cư và tiềm lực mọi mặt, nhất là về nhân lực, vật lực. Là nơi xây dựng và huy động sức người, sức của, đáp ứng nhu cầu của lực lượng vũ trang ngoài tiền tuyến”(1). Theo nghĩa rộng thì hậu phương là chỗ dựa để tiến hành chiến tranh, không phân biệt rạch ròi với tiền tuyến về mặt không gian.

Như vậy có thể hiểu nôm na: Hậu phương là lãnh thổ ở ngoài vùng chiến sự phía sau tiền tuyến, có dân cư và tiềm lực mọi mặt, nhất là về nhân lực, vật lực; nơi xây dựng và huy động sức người, sức của đáp ứng nhu cầu của lực lượng vũ trang ở tiền tuyến. Chiến tranh càng hiện đại thì tiền tuyến càng phụ thuộc vào hậu phương. Trong lịch sử quân sự, các nhà quân sự lỗi lạc và những người thầy vĩ đại của cách mạng vô sản-Mác, Ăngghen, Lênin đều nhấn mạnh đến vai trò của hậu phương vững chắc, có tổ chức. Ăngghen viết: “Toàn bộ việc tổ chức và phương thức chiến đấu của quân đội và do đó thắng lợi, thất bại đều tỏ ra là phụ thuộc vào những điều kiện kinh tế, vào chất liệu của con người và của vũ khí, nghĩa là vào chất lượng và số lượng của cư dân và của cả kỹ thuật”(2). còn Lênin thì cho rằng: “Trong chiến tranh, ai có nhiều lực lượng hậu bị hơn, có nhiều nguồn lực, ai kiên trì đi sâu vào quần chúng nhân dân hơn, thì người đó thu được thắng lợi”(3). Và “Muốn tiến hành chiến tranh một cách thực sự, phải có một hậu phương có tổ chức vững chắc, một đội quân giỏi nhất, những người trung thành nhất với sự nghiệp cách mạng cũng đều lập tức bị kẻ thù tiêu diệt, nếu họ không được vũ trang, tiếp tế lương thực và huấn luyện đầy đủ”(4).

Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Muốn khởi nghĩa phải có căn cứ địa, muốn kháng chiến phải có hậu phương”(5). “Khi có chiến tranh, phải huy động và tổ chức tất cả các lực lượng trong nước để chống giặc”(6). Vai trò của hậu phương là hết sức to lớn bởi chiến tranh là cuộc đọ sức toàn diện giữa hai bên tham chiến. Muốn giành thắng lợi phải có tiềm lực chiến tranh, bao gồm: tiềm lực kinh tế, tiềm lực khoa học, tiềm lực tinh thần-chính trị, tiềm lực quân sự. Những tiềm lực đó phải được tạo ra và dự trữ tại hậu phương.

Hậu phương và tiền tuyến có mối quan hệ khăng khít với nhau. Hậu phương là nền tảng kinh tế, cơ sở vật chất của tiền tuyến, là nguồn nhân lực của tiền tuyến, là nguồn sức mạnh tinh thần của tiền tuyến, là địa bàn đứng chân, là cơ sở lãnh đạo, tổ chức của tiền tuyến. Về mối quan hệ giữa hậu phương và tiền tuyến, ngay từ những ngày đầu Toàn quốc kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài Hỏi và trả lời ngày 23-12-1946 đã viết: “Có người hỏi: Chiến sĩ đánh trước mặt trận, đồng bào ở hậu phương nên làm việc gì?

Trả lời: Chiến sĩ hy sinh xương máu để giữ đất nước. Bụng có no, thân có ấm mới đánh được giặc. Làm ra thóc gạo cho chiến sĩ ăn, làm ra vải vóc cho chiến sĩ mặc. Đều nhờ nơi đồng bào ở hậu phương. Muốn giúp cho chiến sĩ ăn mặc đầy đủ, thì phải ra sức tăng gia sản xuất, nuôi nhiều gà, vịt, lợn, bò giồng nhiều lúa, khoai, ngô, đậu. Hậu phương thắng lợi, thì chắc tiền phương thắng lớn. Thế là đồng bào hậu phương cũng ra sức tham gia kháng chiến”(7). Người đồng thời cũng viết tiếp:

“Tiền phương chiến sĩ hy sinh,

Đem xương máu mình, giữ nước non ta

Hậu phương sản xuất tăng gia,

Cũng là kháng chiến, cũng là vẻ vang”(8)

Trong mối quan hệ giữa hậu phương và tiền tuyến thì tiền tuyến giữ vai trò là mặt trận trực tiếp chiến đấu tiêu diệt quân thù; hậu phương là hậu thuẫn gián tiếp tạo nên thắng lợi ở mặt trận nhưng lại giữ vai trò có tính chất quyết định. Năm 1945, trong bài Gửi nông gia Việt Nam, Bác viết: “Hiện nay chúng ta có hai việc quan trọng nhất: cứu đói ở Bắc và kháng chiến ở Nam. “Thực túc thì binh cường”, cấy nhiều thì khỏi đói. Chúng ta thực hiện “tấc đất tấc vàng” thì chúng ta quyết thắng lợi trong hai việc đó” và Người kêu gọi: “Tăng gia sản xuất! Tăng gia sản xuất ngay! Tăng gia sản xuất nữa! Đó là khẩu hiệu của ta ngày nay. Đó là cách thiết thực của chúng ta để giữ vững quyền tự do, độc lập”(9).

Thực túc binh cường khẳng định một triết lý: Muốn xây dựng được một quân đội hùng mạnh trước hết phải xây dựng được thực lực-tức là phải có một hậu phương vững chắc, mạnh về mọi mặt, nhất là kinh tế-quốc phòng: “Thực hiện kế hoạch sản xuất và tiết kiệm là bồi dưỡng và tích trữ lực lượng dồi dào để kháng chiến lâu dài, để chuẩn bị đầy đủ chuyển sang tổng phản công, để đưa kháng chiến đến hoàn toàn thắng lợi”(10).

Hậu phương và tiền tuyến là hai lĩnh vực hoạt động khác nhau, mỗi lĩnh vực đều có đặc điểm, lĩnh vực hoạt động khác nhau nhưng về bản chất theo Bác “hai công việc” đó đầu có cái chung, thống nhất với nhau: “Vì cứu quốc, các chiến sĩ đấu tranh ở ngoài mặt trận, vì kiến quốc, nhà nông phấn đấu ngoài đồng ruộng. Chiến sĩ ra sức giữ gìn nước non. Nhà nông ra sức giúp đỡ chiến sĩ. Hai bên công việc khác nhau, nhưng thật là hợp tác. Cho nên hai bên đều có công với dân tộc, đều là anh hùng”(11)

2. Về quan điểm, nội dung, biện pháp xây dựng hậu phương

Riêng về vấn đề hậu phương, tư tưởng của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh được thể hiện rõ trong Bài nói chuyện của Người với các đại biểu thân sĩ trí thức phú hào tỉnh Thanh Hóa ngày 20-2-1947. Đối với cuộc kháng chiến của ta, Người phân tích và khẳng định ta sẽ thắng vì có hậu phương ưu thế hơn địch: “Ta thiên thời, địa lợi, nhân hòa đủ để thắng nó”.

Theo Bác, xây dựng hậu phương phải vững mạnh, toàn diện trên tất cả mọi ngành, mọi lĩnh vực như: chính trị, tư tưởng, kinh tế, quân sự, văn hóa, giáo dục…

Xây dựng hậu phương vững mạnh về chính trị-tư tưởng: 

Đây là vấn đề quan trọng hàng đầu trong xây dựng hậu phương của chiến tranh cách mạng nên Người nhận thức rõ chỗ dựa vững chắc nhất của cách mạng là: “Lòng yêu nước và sự đoàn kết của nhân dân là một lực lượng vô cùng to lớn, không ai thắng nổi”(12). Cùng với đó, Người luôn luôn chăm lo phát triển tổ chức Đảng. Trong xây dựng Đảng ở hậu phương cần hết sức coi trọng bồi dưỡng cấp ủy, bí thư và cán bộ nòng cốt cả về nhận thức tư tưởng, phương thức lãnh đạo, cách xây dựng nghị quyết về công tác xây dựng hậu phương quân đội. Đi đôi với xây dựng Đảng là vấn đề không ngừng củng cố, tăng cường và hoàn thiện hệ thống chính trị các cấp làm cho chính quyền các cấp có đủ trình độ và năng lực điều hành, tổ chức thắng lợi các nhiệm vụ xây dựng hậu phương, động viên sức mạnh cao nhất cho chiến trường. Người thường xuyên nhắc nhở cán bộ các cấp ở địa phương: “làm sao cho nhân dân biết hưởng quyền dân chủ, biết dùng quyền dân chủ của mình, dám nói, dám làm”(13).

Quan điểm xây dựng hậu phương vững mạnh về chính trị-tư tưởng của Hồ Chí Minh còn thể hiện ở phương châm chỉ đạo các cấp chính quyền tích cực phát động các phong trào thi đua yêu nước. Người nói: “Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua. Và những người thi đua là những người yêu nước nhất”(14). Quán triệt tư tưởng của Người, trong xây dựng hậu phương chiến tranh, Đảng ta đã phát động toàn dân, toàn quân tham gia nhiều đợt phát động thi đua nhằm xây dựng hậu phương thông qua nhiều phong trào như: “Sóng Duyên Hải”, “Gió Đại phong”, “Mỗi người làm việc bằng hai, tất cả vì miền Nam ruột thịt”…Những phong trào đó đã có tác dụng khích lệ đối với toàn quân, toàn dân hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ ở cả hậu phương lẫn chiến trường.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đặc biệt chú ý đến việc xây dựng hậu phương lòng dân. Từ thực tiễn cách mạng Việt Nam, Người khẳng định: “Phải dựa vào dân, dựa chắc vào dân thì kẻ địch không thể nào tiêu diệt được” và Người đi đến kết luận: “Căn cứ, hậu phương vững chắc nhất là lòng dân”(15)

Xây dựng hậu phương vững mạnh về kinh tế, văn hóa, giáo dục:

Để có hậu phương vững mạnh không thể không nói đến kinh tế. Tiềm lực kinh tế là điều kiện thúc đẩy sự phát triển tiềm lực quốc phòng. Về vấn đề này, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Biết đánh là cái tốt, nhưng chỉ biết đánh mà coi nhẹ chính trị, kinh tế, tuyên truyền giáo dục nhân dân tức là chỉ biết có một mặt, vì đánh không thể tách rời được với chính trị và kinh tế”(16).

Đối với công nghiệp Bác yêu cầu phải: “Chế nhiều vũ khí, dụng cụ, sản phẩm để đánh giặc và để cung cấp cho nhân dân”, phải “hợp tác với chuyên môn để cải thiện kỹ thuật và điều kiện sản xuất; Bảo vệ nhà máy; Phá kinh tế địch bằng mọi cách”(17).

Đối với nông nghiệp khẩu hiệu “Thực túc binh cường”, “Tấc đất tấc vàng”, “Tăng gia sản xuất ngay! tăng gia sản xuất nữa” được Bác nhắc lại nhiều lần. Bác kêu gọi ngành nông nghiêp phải: “Trồng nhiều lúa, nhiều màu, nhiều bong, để quân và dân đủ ăn, đủ mặc, đủ dung; Bảo vệ mùa màng, cất giấu thóc lúa, sẵn sàng tiếp tế lương thực cho quân đội… Tổ chức làng kháng chiến; Chủ ruộng giảm tô cho đúng, tá điền nộp địa tô cho đều; Xây dựng các tổ đổi công để tăng gia sản xuất”(18).

Đối với giao thông vận tải: Bác luôn nhấn mạnh tầm quan trọng của nó. Trong Thư gửi Hội nghị cán bộ giao thông công chính, Bác nhấn mạnh: “Năm nay công tác giao thông vận tải, nhất là công tác sửa chữa cầu đường, rất là quan trọng. Đường sá thông thì mọi việc đều dễ dàng”. Trong Thư gửi cán bộ đồng bào dân công cầu đường năm 1953, Bác cũng nói: “Công việc cầu đường là rất quan trọng. Nó cũng là một chiến dịch mà các cô, các chú là chiến sĩ”(19).

Đối với sản xuất quốc phòng Bác cũng yêu cầu lực lượng vũ trang phải thực hành tự cấp, tự túc bằng cách tăng gia sản xuất: “Các cơ quan trong quân đội phải cố sức trồng trọt chăn nuôi để tự túc phần nào, để giảm bớt gánh nặng của nhân dân. Tuy công việc chuyên môn vẫn là chính, nhưng phải cố sức tăng gia. Bộ đội đánh thắng giặc thu được nhiều chiến lợi phẩm, đấy cũng là tăng gia”(20).

Cùng với việc chỉ đạo toàn Đảng, toàn dân xây dựng hậu phương vững mạnh về kinh tế, chính trị, quốc phòng, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn chú ý đến vấn đề xây dựng hậu phương phát triển văn hóa, giáo dục, y tế. Ngay khi nước ta giành được độc lập, Bác luôn dành sự quan tâm đặc biệt đến việc xây dưng nền văn hóa mới. Dưới sự lãnh đạo của Người, nạn mù chữ nhanh chóng được xóa bỏ trên toàn quốc. Trình độ học vấn của nhân dân được nâng lên. Nhờ đó việc động viên nhân dân tham gia kháng chiến, xây dựng và bảo vệ hậu phương được thuận lợi. Bác cũng xác định: “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy”. Người đồng thời chỉ rõ: “Xúc tiến công tác văn hóa để đào tạo con người mới và cán bộ mới cho công cuộc kháng chiến, kiến quốc…”.

Như vậy, xây dựng hậu phương vững mạnh toàn diện theo tư tưởng Hồ Chí Minh là quá trình xây dựng thực lực cho kháng chiến, làm cho dựa vững chắc cho tiền tuyến, vừa phục vụ đời sống nhân dân, vừa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của chiến tranh. Nhằm động viên, cổ vũ và phát huy cao độ sức mạnh của quần chúng nhân dân trong chiến đấu, xây dựng và bảo vệ hậu phương, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng với Đảng, Nhà nước thường xuyên chăm lo quan tâm chỉ đạo thực hiện Chính sách hậu phương quân đội, coi đó là sức mạnh tổng hợp của hậu phương chiến tranh. Điều đó đã làm cho gia đình có người thân tham gia chiến đấu ngoài mặt trận tin tưởng, an tâm. Đồng thời các chiến sĩ đang công tác trên các mặt trận càng được tiếp thêm sức mạnh từ chính gia đình, xã hội để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Ngày nay, nước ta tiếp tục sự nghiệp đổi mới theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tình hình quốc tế và trong nước đang có những diễn biến hết sức phức tạp. Do đó, việc quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng hậu phương có ý nghĩa hết sức quan trọng. Chúng ta không những phải xây dựng hậu phương vững mạnh về chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục… mà còn phải xác định phương hướng, chiến lược xây dựng hậu phương sao cho phù hợp với công cuộc đổi mới và xây dựng, bảo vệ Tổ quốc hiện nay./.

--------------------

(1) Từ điển bách khoa Việt Nam, tập 1, Nxb Từ điển, H. 1998, tr.231.

(2) Mác-Ăngghen, Về mối quan hệ giữa kinh tế hậu phương, chiến tranh và quân đội, Nxb QĐND, H. 1977, tr.242.

(3) Lênin toàn tập, tập 30, Nxb CTQG, H. 2005, tr.84.

(4) Lênin toàn tập, tập 35, Sđd, tr.497.

(5) Đại tướng Văn Tiến Dũng, Đi theo con đường của Bác, Nxb CTQG, H. 1990, tr.173.

(6) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4, Nxb CTQG, H. 1996, tr.474.

(7) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4, Nxb CTQG, H. 2002, tr.486.

(8) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4, Sđd, tr.114-115.

(9) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4, Sđd, tr.115.

(10) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 6, Nxb CTQG, H. 2002, tr.440.

(11) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4, Sđd, tr.114.

(12) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 6, Sđd, tr.281.

(13) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 12, Sđd, tr.223.

(14) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 6, Sđd, tr.473.

(15) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 12, Sđd, tr.456.

(16) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 6, Sđd, tr.523.

(17) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 5, Sđd, tr.591.

(18) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 5, Sđd, tr.591.

(19) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 7, Sđd, tr.140.

(20) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 6, Sđd, tr.512.

Lê Hoa Thiệu - Lê Thị Thanh Huyền /Hệ 6-Học viện Chính trị
 ( 3,0 / 0 )
Bài gần đây Quay lại | Lên đầu trang
Bài cùng chuyên mục
Xem thêm...